Gặp lại tuổi thơ

Tuần vừa rồi “Bu” mệt, mẹ nghỉ làm mấy hôm, khăn gói quả mướp về lại nhà mình chăm sóc “Bu”.

Ngủ nhà mình ngày xưa mà cứ thấy lạ, trằn trọc mãi… ngẫm nghĩ sao lại có cảm giác này nhỉ?… Nhẩm tính cái thời gian Bu đuổi đến ở nhà người với thời gian ở với Bu cũng xấp xỉ. Thảm nào!

Mùa này ve kêu râm ran. Buổi tối dắt con gái ra sân, nói con nghe về ve kêu gọi hè… Thấy con gái hứng thú, mẹ nẩy ý định dắt con đi sờ ve gốc cây, như mẹ ngày xưa tuổi con, đầy hứng thú.

Hai mẹ con lom khom dưới gốc cây, trong bóng tối. May mắn cho mẹ, một chú ve vừa chui ra khỏi cái vỏ cứng đơ, người vẫn còn xanh mướt, đôi cánh trong veo nằm yên dưới gốc cây. Con gái nhìn thấy hét thất thanh: “CON GIÁN” rồi chạy mất dép!

Cầm con ve trên tay, thấy mình nhỏ lại…cái thủa tóc xoăn tít, vàng hoe cháy nắng, rôm chín rôm xanh đầy mình, quần xanh chéo vá đít suốt ngày phơi nắng. Chỉ đến bữa cơm mới nhìn thấy mặt.

Những mùa hè hoang dã…

Hè là ve kêu râm ran. Bắt ve là cái thú của lũ trẻ. Lũ con trai thì đi dính ve, phơi nắng hàng trưa trên sân thượng. Lũ con gái cứ chập chập tối là hò nhau sờ ve dưới gốc cây, tóm lũ ve non nớt vừa lột đem về thả khắp đình màn.

Hè về là phượng đỏ lập loè chen bằng lăng tim tím. Ngày đó không có khái niệm hoa đẹp. Chỉ có khái niệm chơi được hay không chơi được. Phượng chơi được với với cái nụ căng sắp nở, tách cái vỏ xanh ngoài ra là măm được!. Bằng Lăng thì ghét vì chả có gì hữu ích, đã thế khi hoa tàn, cái đài già rụng xuống thành cái chông sắc nhọn. Lũ trẻ chân trần không biết bao lần úi oái. Nên cứ thấy Bằng Lăng là tránh!

Hè về là dâu da chín đỏ, là sấu là me, là nhãn đung đưa trĩu chịt… Dâu da thì ăn từ lá đến quả. Một chút muối ớt thì lá cũng chua ngon. Sấu xanh, chao ôi nghe đến đã thèm, nào dầm mắm, nào muối ớt. Tõm một quả vào mồm nhau rau ráu… Còn nhãn thì thôi rồi. Chờ làm sao được đến khi quả chín!. Chỉ khổ cho đôi hàm răng non nớt. Cái tên” Anh Sún” có lẽ ra đời từ đó kèm theo là bài vè cho mẹ đeo suốt tuổi thơ:

” Sún ơi sún
Mười chín cái răng còn ba
Nhe răng ra
Còn ba cái răng sún nốt”.

Cây nhãn còi trước nhà mẹ rất yêu quý, cứ sểnh ra là leo tít lên cây. Đến cơm cũng vác lên cây ăn. Hết vắt vẻo trên cây lại đung đưa ngồi đu bến dưới…

Hè về là ô ăn quan, chắt chuyền, lò cò, u đồ, nhẩy dây nhẩy ngựa…Chẳng biết do cái môi cong, đặt cái chảo lên không rơi (như Bu vẫn ví) nên mẹ đanh đá, hay vì đanh đá quá thành môi cong?. Mẹ có uy với lũ trẻ cùng lứa, là đứa dẫn đầu trong mọi trò chơi.

Nhảy dây cũng có dăm loại nhưng khó nhất và đòi hỏi kỹ thuật xiếc nhất là trò chun đơn với chun đôi. Chun đơn, đến bàn cao nhất hai đứa cầm hai đầu dây giơ lên đầu ưỡn cho cao tít. Đứa chơi chống tay xoay mình lộn một vòng móc qua dây trông như trồng cây chuối. Móc chun đôi cũng không hề đơn giản, cái ngón chân phải gẩy thật khéo để tách hai dây chun cứ hẹp dần khoảng cách.

Trò nhảy ngựa đầy nguy hiểm. Phải đứa nặng ký nhảy đánh huỵch lên cổ, ngồi chễm chệ trên lưng cho đến khi mấy con ‘ngựa’ chịu không nổi, đứt!

Lũ con trai thì mê mải với đánh khăng đánh đáo. Súng phốc với con quay. Thua được đều trả nhau bằng giấy kẹo gom góp.

Thú nhất những đêm hè mất điện. Người lớn trẻ con lao hết ra sân hóng mát. Lũ trẻ như mẹ cứ lẽo đẽo theo đám anh chị, hóng hớt nghe kể chuyện ma rồi để chết nhát đến cả tháng trời không hết.

Còn biết bao nhiêu trò chơi nữa trong cái vương quốc trường Thuỷ Lợi rộng mênh mông. Từ quây vũng bắt cá đến rúc bụi kiếm trứng gà đẻ hoang… bắc gạch với ống bơ nấu nướng xì xụp, mê mải suốt một hè dài.

Tuổi thơ về đầy trong nỗi nhớ!